Quán ăn gia đình và quán nhậu cùng một kiểu: gọi nhiều món bày giữa bàn, ai gắp gì thì gắp. Đây là nơi người ăn chay dễ bị bỏ quên nhất.
Nhưng thật ra chỉ cần gọi thêm vài món rau là giải quyết xong, và cả bàn cũng được lợi.
Món rau quán nào cũng có
Rau muống xào tỏi. Hỏi sốt hàu và mắm.
Rau luộc chấm. Xin chấm riêng.
Đậu phụ chiên giòn. Hỏi dầu chiên.
Đậu phụ nướng hoặc hấp. Ở vài quán.
Nấm xào. Món hợp bàn nhậu.
Nấm nướng. Xin vỉ riêng.
Ngô chiên bơ. Hỏi bơ loại gì.
Khoai tây chiên. Hỏi dầu chung.
Đậu bắp luộc hoặc nướng. Món nhẹ.
Gỏi rau củ. Hỏi nước trộn.
Dưa leo và cà chua. Đĩa rau sống.
Bắp cải luộc. Đơn giản.
Lạc rang. Món nhắm có ở mọi quán.
Bánh tráng và bánh phồng. Hỏi thành phần.
Gọi món cho cả bàn
Gọi thêm hai ba món rau cho bàn. Ai cũng ăn.
Món rau thường hết trước. Gọi dư.
Không gọi riêng một suất cho mình. Trừ khi cần.
Gọi món chay bày chung thì tự nhiên hơn. Không ai thấy lạ.
Xin đĩa riêng để gắp ra. Nói nhẹ.
Gắp trước khi món bị trộn. Thực tế.
Xin đũa sạch để gắp. Phép chung.
Đặt đĩa mình phía mình ngồi. Tránh nhầm.
Không bới trong đĩa chung. Mất lòng.
Gọi một suất cơm hoặc bún cho mình. Nếu bàn chỉ có món nhắm.
Quán nhậu thường có cơm chiên và mì xào. Hỏi thành phần.
Cháo trắng cuối bữa ở quán nhậu. Hỏi nước nấu.
Nói yêu cầu khi gọi món. Không phải lúc bưng ra.
Một người gọi cho cả bàn thì nói với người đó. Trước khi họ gọi.
Giữ không khí bữa đông
Không nhắc chuyện ăn chay giữa bàn. Luật đầu tiên.
Không bình luận về món của người khác. Luật thứ hai.
Trả lời ngắn nếu ai hỏi. Rồi chuyển chuyện.
Cười khi bị trêu. Hiệu quả hơn giải thích.
Không dỗi nếu quán ít món hợp. Không phải lỗi ai.
Không để cả bàn đổi quán vì mình. Dễ gây khó chịu.
Mời bàn nếm món rau mình gọi. Cách hay.
Nhiều người thích món rau ngon. Chuyện thường.
Uống gì thì tùy mình. Không liên quan chuyện chay.
Nói khéo nếu bị ép uống. Kỹ năng riêng.
Ăn nhẹ trước nếu biết quán khó. Chuẩn bị lặng lẽ.
Bổ sung sau khi về. Không sao.
Tập trung vào câu chuyện. Mục đích của bữa.
Bữa vui thì lần sau còn được rủ. Điều đáng giữ.
Chuyện tiền và chia bàn
Bàn chung thường chia đều tiền. Tiện nhất.
Món rau rẻ hơn món thịt. Chia đều thì mình chịu chút thiệt.
Chênh lệch thường không đáng kể. Giữ không khí quan trọng hơn.
Nếu gọi suất riêng thì tự trả. Gọn.
Nói trước cách chia nếu nhóm lạ. Tránh lấn cấn.
Không tính chi ly giữa bạn bè. Mất vui.
Mời cả bàn một lần nếu có dịp. Cân lại.
Gọi thêm món rau thì mình trả phần đó. Nếu bàn ngại.
Thường thì cả bàn ăn hết món rau. Nên không cần tách.
Đặt bàn trước nếu nhóm đông. Dặn luôn món chay.
Nói với quán khi đặt bàn. Bếp chuẩn bị được.
Quán quen thì họ nhớ. Lần sau tự làm.
Ghi lại quán chiều được. Đề xuất lần sau.
Ủng hộ quán đó thường xuyên. Có đi có lại.
Quán nhậu và giờ muộn
Quán nhậu mở khuya. Cứu cánh khi đói muộn.
Món nhắm chay khá ít. Chuẩn bị tinh thần.
Lạc rang và đậu phộng luộc. Luôn có.
Ngô nướng và khoai chiên. Phổ biến.
Nấm nướng nếu quán có. Món ngon.
Đậu phụ chiên hoặc nướng. Hỏi.
Rau luộc cuối bữa. Nhiều quán có.
Cháo hoặc mì cuối bữa. Hỏi nước nấu.
Trái cây tráng miệng. Món an toàn.
Ăn trước khi đi nếu biết quán khó. Mẹo đơn giản.
Đừng để bụng rỗng khi uống. Hại sức khỏe.
Uống nhiều nước lọc xen kẽ. Việc nên làm.
Về sớm nếu thấy mệt. Không cần ngồi tới cuối.
Giữ sức cho hôm sau. Quan trọng hơn.
Đề xuất quán cho nhóm
Quán có cả món chay lẫn món thường là tốt nhất. Ai cũng vui.
Quán lẩu cho xin nồi riêng. Hỏi trước khi đặt.
Quán nướng cho xin vỉ riêng. Cùng cách.
Quán buffet thì dễ nhất. Tự chọn.
Quán cơm gia đình nhiều món rau. An toàn.
Quán chay thuần chỉ đề xuất khi nhóm đồng ý. Không áp đặt.
Tra quán trước khi nhóm chốt. Chủ động.
Đưa hai ba lựa chọn. Dễ được đồng ý.
Nói rõ vì sao đề xuất quán đó. Món ngon, giá hợp, chỗ rộng.
Không nói vì nó có món chay. Lý do khác thuyết phục hơn.
Đặt bàn giúp nhóm. Đóng góp.
Dặn quán chuẩn bị vài món rau. Khi đặt bàn.
Ghi lại quán cả nhóm thích. Quay lại.
Làm người tra quán của nhóm. Vai trò hợp với mình.
Quán ăn gia đình cuối tuần
Cuối tuần quán gia đình rất đông. Đặt bàn trước.
Dặn món chay ngay lúc đặt bàn. Bếp có thời gian chuẩn bị.
Nhắc lại với phục vụ khi tới. Đơn đặt hay rơi.
Bàn tròn chia món chung là kiểu phổ biến. Xin đĩa riêng từ đầu.
Nhóm càng đông thì món càng nhiều. Gọi thêm rau là hợp lý.
Trẻ nhỏ trong bàn thường thích món rau củ. Gọi dư một chút.
Ông bà cũng hay ăn món nhạt. Món chay hợp cả hai nhóm.
Quán có phòng riêng thì yên tĩnh hơn. Hỏi khi đặt.
Bữa gia đình kéo dài lâu. Gọi món theo đợt.
Không gọi hết một lượt. Món nguội mất ngon.
Tráng miệng thường là trái cây. An toàn.
Chè và bánh thì hỏi thành phần. Có thể có gelatin.
Người lớn tuổi hay muốn trả tiền. Tôn trọng.
Bữa vui hơn món ăn. Nhớ điều đó.